14:07 ICT Thứ tư, 22/11/2017

Thành viên

Hình ảnh hoạt động

Những bậc Đại khoa quê Xuân Trường trong các triều đại phong kiến

Đăng lúc: Thứ sáu - 17/07/2015 08:15 - Người đăng bài viết: pgd-xuantruong
Tiến sĩ Đặng Xuân Bảng – người làng Hành Thiện

Tiến sĩ Đặng Xuân Bảng – người làng Hành Thiện

Kể từ tháng 3 năm 1075 Vua Lý Nhân Tông mở khoa thi Nho học đầu tiên của nước ta cho tới khoa thi Hội cuổi cùng năm Kỷ Mùi niên hiệu Khải Định thứ 4 (1919), nước ta có 2.898 vị đỗ Đại khoa (đỗ chính thức ở khoa thi Hội). Con số trên vẫn còn thiếu, vì một số khoa thi Hội sách sử chỉ ghi tên khoa thi nhưng không ghi tên người đỗ

 Kể từ tháng 3 năm 1075 Vua Lý Nhân Tông mở khoa thi Nho học đầu tiên của nước ta cho tới khoa thi Hội cuổi cùng năm Kỷ Mùi niên hiệu Khải Định thứ 4 (1919), nước ta có 2.898 vị đỗ Đại khoa (đỗ chính thức ở khoa thi Hội). Con số trên vẫn còn thiếu, vì một số khoa thi Hội sách sử chỉ ghi tên khoa thi nhưng không ghi tên người đỗ.



    Trong số đó, tỉnh Nam Định có 83 vị đỗ Đại khoa, và riêng huyện Xuân Trường có 9 vị. Dưới các triều đại phong kiến Việt Nam, muốn đỗ đạt cao, nho sinh phải trải qua ba khóa thi: Thi Hương, thi Hội, thi Đình. Có đỗ ở kỳ thi Hương thì mới được dự kỳ thi Hội.

    Thi Hương: Được tổ chức ở nước ta từ năm Quang Thái thứ 9 (1396) đời Vua Trần Thuận Tông. Mỗi khoa thi Hương thí sinh phải trải qua 4 kỳ:

    Kỳ thứ nhất: Thi Kinh nghĩa.

    Kỳ thứ hai: Thi văn chế, văn chiếu và văn biểu.

    Kỳ thứ ba: Thi thơ Đường luật.

    Kỳ thứ tư: Thi văn sách.

    Ai đỗ ba kỳ gọi là tú tài.

    Người đỗ bốn kỳ ở khoa thi Hương được nhận học vị cử nhân.

    Tính từ khoa thi Hương năm Quý Dậu, Gia Long thứ 12 (1813) đến khoa thi Hương cuối cùng năm Ất Mão, Duy Tân thứ 9 (1915), tổng là 102 năm có 72 người đỗ Cử nhân (hầu hết là người Hành Thiện).

    Một nửa trong số cử nhân quê huyện Xuân Trường được bổ nhiệm làm quan từ Tri huyện trở lên.

    Thi Hội: Khoa thi đầu tiên được tổ chức vào năm 1232 đời Vua Trần Thái Tông (Trần Cảnh). Ngay từ khoa thi Hội đầu tiên triều đình đã chia người đỗ ở khoa thi Hội thành “Tam giáp” (ba hạng) là: Đệ nhất giáp, Đệ nhị giáp, Đệ tam giáp.


Các thí sinh tại trường thi Nam Định xưa

    Sự phân chia như trên được duy trì tới khoa thi Hội cuối cùng (1919) của triều Nguyễn; từ khoa thi Hội năm Đinh Mùi (1247) bắt đầu đặt danh hiệu “Tam Khôi” gồm: Trạng nguyên, Thám hoa, Bảng nhãn.

Đó là 3 người đỗ xuất sắc nhất (theo thứ tự 1, 2, 3) trong số những người đỗ ở khoa thi Hội; họ thuộc hạng “Đệ nhất giáp”.

    “Đệ nhị giáp” là những tiến sĩ sau hạng Tam Khôi; còn gọi là: “Đệ nhị giáp đồng tiến sĩ xuất thân” hay “Hoàng Giáp”.

    “Đệ tam giáp” còn gọi là “Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân” bao gồm những tiến sĩ đỗ và đứng hạng thứ 3, sau hạng “Đệ nhị giáp”.

    Triều Nguyễn từ khoa thi Hội năm Kỷ Sửu (1829)-Minh Mệnh thứ 10, lấy đỗ thêm những người có số điểm gần sát với hạng “Đệ tam giáp” nhưng tách riêng thành một bảng phụ, gọi là “Phó bảng”. Như vậy học vị “Phó bảng” cũng được chọn đỗ ngay ở kỳ thi Hội, nhưng quyền lợi đãi ngộ không được bằng người đỗ chính thức ở 3 giáp.

    Triều Nguyễn không lấy đỗ Trạng nguyên. Người đỗ đầu ở thi Hương, thi Hội, thi Đình được nhận học vị “Tam nguyên”. Như Tam nguyên Trần Bích San của Nam Định, Tam nguyên Nguyễn Khuyến của Hà Nam.

   Thi Đình: Đây là kỳ thi đặc biệt; thông lệ thì sau thi Hội là chọn được những người đỗ ở “Tam Giáp”. Nhưng có một số khoa thi Hội, giám khảo chọn một số nho sinh có bài thi tốt, cho dự kỳ thi Đình, đề nhà Vua và một số quan Đại thần ra bài, hỏi bài và chấm bài từ đó chọn được những người có thực tài cho đỗ ở hạng “Đệ nhất giáp”.

    Từ những tiêu chí trên, xin giới thiệu những vị quê Xuân Trường đỗ Đại khoa trong chế độ phong kiến.

    Tiến sĩ Phạm Tráng: Người làng Dũng Nhuệ xưa thuộc Hành Thiện, đậu Tiến sĩ khoa thi năm Nhâm Tuất, niên hiệu Cảnh Thống 5 (1502) đời Vua Lê Hiến Tông. Làm quan tới chức Lại Bộ Hữu Thị Lang.

    Đào Minh Dương- Đỗ khoa thi 1550.

    Tiến sĩ Phạm Như Giao: Người làng Cát Xuyên, xã Xuân Thành, 44 tuổi đỗ Tiến sĩ khoa thi năm Giáp Tuất, niên hiệu Sùng Khang 9 (1574) đời Vua Mạc Mậu Hợp. Khi nhà Mạc đổ, ông phù nhà Lê, làm quan đến chức Thừa Chính Sứ.

    Phạm Thể Lực, Lạc Quần-Đỗ Tiến sĩ khoa thi năm 1828.

    Phó bảng Đặng Kim Toán (1814-1881): Người làng Hành Thiện, xã Xuân Hồng; đậu Phó bảng năm Mậu Thân Tự Đức thứ nhất (1848). Được bổ giữ chức Hàn lâm viện Kiểm thảo, sau bổ là tri phủ Tĩnh Gia. Có công lập Tổng Lạc Thiên huyện Giao Thủy nên được thăng chức án sát Bắc Ninh làm thị giảng học sĩ. Sau về làm án sát Ninh Bình. Rồi Tuần phủ hộ lý Lạng Bình. Năm 1874 làm tri phủ Ninh Bình, sau thăng chức là An Định thống đốc.

    Phó bảng Đặng Đức Địch: Người làng Hành Thiện, xã Xuân Hồng đậu Phó bảng khoa Kỷ Dậu, niên hiệu Tự Đức thứ 2 (1849); làm quan tới chức Thượng thư bộ lễ; sau xin về nghỉ và dạy học tại quê.

    Tiến sí Đặng Xuân Bảng: Người làng Hành Thiện, xã Xuân Hồng. Năm 29 tuổi ông đậu Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân khoa Bính Thìn, Tự Đức thứ 9 (1856). Được bổ chức Tuần phủ Hải Dương. Năm 1873 Pháp chiếm thành Hải Dương, ông bị cách chức Tuần phủ; sau được hồi phục hàm Quang Lộc tự Thiếu Khanh, giữ chức Đốc học Nam Định.


Tiến sĩ Đặng Xuân Bảng – người làng Hành Thiện

    Phó bảng Nguyễn Âu Chuyện: Người làng Hành Thiện, xã Xuân Hồng, khoa thi Hội năm Ất Dậu, niên hiệu Hàm Nghi thứ nhất (1885), ông trúng cách nhưng chưa kịp công bố thì kinh thành thất thủ! Tới khoa thi Kỷ Sửu, Thành Thái thứ nhất (1889) ông đậu Đồng Tiến sĩ xuất thân, được bổ làm án sát Hà Nội.

    Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Liên: Người làng Hành Thiện, xã Xuân Hồng. Đậu Tiến sĩ khoa Kỷ Hợi, niên hiệu Thành Thái thứ nhất (1889); được bổ làm Tri phủ Nam Sách, sau cáo quan về nghỉ.

    Phó bảng Phạm Ngọc Thụy: Người làng Hành Thiện, xã Xuân Hồng. Đậu Phó bảng khoa thi năm Tân Sửu, niên hiệu Thành Thái thứ mười ba (1901). Gia đình Phó bảng Phạm Ngọc Thụy có bốn người: cha con chú cháu, anh em đều đỗ cử nhân.

Bảo tồn và phát huy

di sản văn hóa

ở XUÂN TRƯỜNG

    Xuân Trường - Nam định được biết đến là vùng đất “địa linh, nhân kiệt”, có từ lâu đời. Trải qua trường kỳ lịch sử của đất nước và dân tộc, vùng đất này mang những tên gọi khác nhau.

    Cái tên Xuân Trường mang ý nghĩa sức Xuân và trường tồn mãi đã có từ đầu thế kỷ XIX.

    Từ xưa, Xuân Trường là nợi gặp gỡ giao hội của các mạch giao thông thủy bộ, chủ yếu là những dòng sông hướng ra biển lớn. Như sông Ninh Cơ, sông Hồng, sông Sò… Cảnh quan sinh thái phủ Xuân Trường thật đa dạng, phong phú. Những cánh đồng trải dài tít tắp với những hệ thống kênh mương ắp đầy nước mát tạo cho nơi đây sớm trở thành trung tâm giao thương, vừa thuận lợi cho làm ăn, phát triển kinh tế - văn hóa, khiến vùng đất này có vị trí khá đặc biệt trong lịch sử dân tộc, văn hóa Việt Nam.

    Kết quả nghiên cứu lịch sử cho thấy đây là địa bàn sinh tụ của nhiều người dân thuộc đủ các vùng miền trên phạm vi toàn quốc đến đây khai khẩn lập làng, cư trú.

    Những giá trị văn hóa đó từ hàng trăn năm nay, đã được nhân dân trong vùng đời này qua đời khác tôn thờ, ngưỡng vọng. Hướng về một tương lai phát triển, người dân Xuân Trường luôn ý thức được rằng cần phải ra sức bảo tồn, phát huy những giá trị lịch sử, văn hóa ấy trên cơ sở những di sản văn hóa luôn được tồn tại cả trong tâm thức và hiện hữu. Xin được giới thiệu cùng quý độc giả về những di sản văn hóa đó./.

 
 
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết